Sự kiện bảo hiểm là gì?

Sự kiện bảo hiểm là gì?

Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 346 của Bộ luật này. (Trích: Điều 571 Bộ luật Dân sự 2005 quy định sự kiện bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm.)

Sự kiện bảo hiểm là gì?

Sự kiện bảo hiểm là một khái niệm quan trọng trong hợp đồng bảo hiểm, nó có ý nghĩa quyết định trong việc bên bảo hiểm có phải trả bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi thiệt hại xảy ra hay không.

  • Yêu cầu đầu tiên của sự kiện bảo hiểm là sự kiện đó phải là sự kiện khách quan mà bên mua bảo hiểm không mong muốn xảy ra. Nếu thiệt hại mà do bên mua bảo hiểm cố ý tạo ra thì không được coi là sự kiện bảo hiểm và tất nhiên không được trả tiền bảo hiểm. Doanh nghiệp cũng có thể quy định trong hợp đồng hoặc tuân theo quy định của pháp luật nhằm loại trừ trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Điều 13 Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16-09-2008 về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới quy định: doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau: (i) hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe, hoặc của người bị thiệt hại; (ii) lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới; (iii) lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe; (iv) thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại; (v) thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn; (vi) chiến tranh, khủng bố, động đất; (vii) thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.
  • Yêu cầu thứ hai đối với sự kiện bảo hiểm là sự kiện đó phải do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Chỉ những sự kiện do pháp luật quy định đối với loại bảo hiểm bắt buộc đó hoặc do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tự nguyện đó xảy ra thì mới được coi là sự kiện bảo hiểm và bên bảo hiểm mới trả tiền bảo hiểm. Còn các sự kiện khách quan khác không được coi là sự kiện bảo hiểm.

Theo Điều 22 Luật bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18-06-2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2013 quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm thì: Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi.

Trong hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ đối với tài sản thì chỉ khi cháy tài sản đó bên bảo hiểm mới trả tiền bảo hiểm còn nếu tài sản bị thiệt hại do sự kiện được loại trừ trách nhiệm theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 130/2006/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 46/2012/NĐ-CP thì bên bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm.

Chỉ khi có đủ hai yêu cầu trên thì một sự kiện mới được coi là sự kiện bảo hiểm và bên bảo hiểm mới trả tiền cho bên được bảo hiểm. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một điều khoản loại trừ, trong trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp. Trong trường hợp này khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp, nếu bên nhận thế chấp thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán với bên nhận thế chấp (Điều 346 Bộ luật dân sự năm 2005).

Tuy nhiên, cần chú ý là hợp đồng bảo hiểm thường được ký kết theo mẫu do doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra, do đó sự kiện bảo hiểm được quy định cụ thể trong bản hợp đồng. Nếu bên mua bảo hiểm đồng ý ký kết hợp đồng bảo hiểm có nghĩa là đã đồng ý với điều khoản về sự kiện bảo hiểm được nêu trong hợp đồng. Trong hợp đồng mẫu mà bên bán bảo hiểm đưa ra có thể có nhiều sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm sẽ lựa chọn một hoặc một số sự kiện bảo hiểm và bên mua bảo hiểm sẽ đóng phí bảo hiểm tương ứng với sự lựa chọn này.

Nguồn tham khảo: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, PGS.TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên)

Sự kiện bảo hiểm là gì?
5 (100%) 6 votes

Bạn đang ở Đà Nẵng?

Bạn muốn tìm hiểu thêm về các lợi ích, quyền lợi khi tham gia BHNT?
Chúng tôi sẽ lên lịch hẹn,hỗ trợ tư vấn và tìm ra giải pháp bảo vệ tốt nhất!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *